Vai trò của vitamin E trong cơ thể

Đăng ngày 06/23/2019

Hiện nay có nhiều người đang dùng thêm vitamin E với các mục đích khác nhau, vì họ cho rằng vitamin E là chất chống ôxy hóa, mà sự ôxy hóa là nguyên nhân dẫn tới lão hóa, giảm khả năng tình dục, bệnh tim mạch, sa sút trí tuệ, ung thư… Vấn đề là vitamin E có tác dụng như mong muốn của người dùng nó hay không? Bài viết sau đây sẽ giúp làm sáng tỏ điều đó.

Các chất chống ôxy hóa trong cơ thể

Ôxy là dưỡng khí cần thiết cho sự sống, trừ những sinh vật kỵ khí. Ôxy tham gia vào quá trình chuyển hoá trong cơ thể để tạo ra năng lượng cung cấp cho mọi hoạt động của tế bào. Ở điều kiện nhiệt độ và áp suất bình thường, không khí có 20% dưỡng khí, phù hợp với sự hô hấp của cơ thể và thích nghi của phổi. Nếu hít thở ôxy nguyên chất khoảng 6 giờ, sẽ xuất hiện triệu chứng nặng ngực, thở lâu hơn nữa, sẽ tổn thương phế nang. Quá trình ôxy hóa trong cơ thể sẽ tạo ra những gốc tự do (free radicals) là những chất gây tổn thương cho tế bào, song nhờ cơ thể sinh ra các loại enzym có khả năng vô hiệu hóa gốc tự do. Trong đó có một số enzym quan trọng là superoxide dismutase (SOD), catalase và glutathione. Mặt khác cơ thể có thể trung hòa các gốc tự do bằng cách dùng chất chống ôxy hóa (antioxidant). Nhiều nghiên cứu cho thấy chất chống ôxy hóa có khả năng làm mất hoạt tính của gốc tự do tích tụ trong cơ thể, biến chúng thành những phân tử vô hại, đồng thời còn có khả năng duy trì cấu trúc và chức năng của tế bào. Thực phẩm có nhiều chất chống ôxy hóa là rau, trái cây và các loại hạt dùng tốt hơn nhiều so với việc sử dụng chất antioxidant tổng hợp. Các chất chống ôxy hóa chủ yếu là vitamin C, vitamin E, beta-caroten. Sau đây chỉ xin đề cập đến vitamin E.

Những điều cần biết về vitamin E

Vitamin E có hai nhóm chính là tocopherols và tocotrienol. Chất có tác dụng mạnh nhất trong cơ thể là alpha-tocopherol isomer. Cơ thể chúng ta hấp thu được cả tocopherol thiên nhiên và nhân tạo, nhưng tocopherol thiên nhiên trong thực phẩm có nhiều tác dụng tốt hơn. Vitamin E là chất dầu sền sệt, màu vàng nhạt, hòa tan dễ dàng trong chất béo và cồn nhưng không hòa tan trong nước; chịu được nhiệt độ khá cao và acid nhưng dễ bị phân hủy bởi tia tử ngoại và ôxy. Khi đun nấu ở nhiệt độ bình thường không làm mất vitamin E, nhưng khi chiên rán thực phẩm chìm trong dầu mỡ, thực phẩm đóng hộp hay sấy khô thì mất khá nhiều vitamin E.

Vai trò quan trọng của vitamin E trong cơ thể: tham gia chuyển hóa của các tế bào; bảo vệ vitamin A và chất béo của màng tế bào khỏi bị ôxy hóa; tạo hồng cầu; phòng ngừa sự hư hao của tế bào và giúp cơ thể sử dụng vitamin K; ngăn ngừa bệnh vữa xơ động mạch do làm giảm sự ôxy hóa các protein tan trong mỡ, từ đó ngăn các protein này tham gia quá trình làm tắc nghẽn động mạch; vitamin E ngăn ngừa các bệnh tim mạch, kể cả nhồi máu cơ tim và tai biến mạch máu não, do làm giảm bớt sự kết tụ của cholesterol xấu LDL (low density lipoprotein) ở trong mạch máu; vitamin E có thể làm tăng tính miễn dịch bằng cách bảo vệ tế bào khỏi bị tổn thương, do đó tăng sức đề kháng của cơ thể với các bệnh nhiễm khuẩn mạnh hơn; làm chậm tiến triển bệnh sa sút trí tuệ; vitamin E làm giảm nguy cơ bệnh đục nhân mắt (cataract) nhờ khả năng chống ôxy hóa.

Thực phẩm giàu vitamin E chủ yếu có nguồn gốc thực vật như dầu đậu nành, dầu hướng dương, dầu bắp, trong mầm lúa mì, trong bắp, các loại hạt có vỏ cứng, quả ô liu, măng tây, các loại rau có lá màu xanh đậm. Vitamin E được hấp thu ở ruột non cùng với các vitamin tan trong mỡ khác như A, D, K nhờ sự hỗ trợ của mật và chất béo. Khoảng 35% lượng vitamin E hấp thu vào cơ thể được chuyển đến bạch huyết, phần còn lại được bài tiết ra ngoài qua phân. Vitamin E lưu chuyển trong máu và được tích trữ chủ yếu trong gan và các mô mỡ; một phần nhỏ ở tuyến yên, tuyến thượng thận, tinh hoàn và tử cung. Vitamin E không gây ra triệu chứng ngộ độc khi dùng với số lượng lớn.

Nhu cầu của cơ thể đối với vitamin E hằng ngày thay đổi tùy theo tuổi, giới tính, số lượng chất béo bão hòa mà cơ thể tiêu thụ: trẻ còn bú cần 3mg; trẻ 1-3 tuổi 5-7 mg; 4-9 tuổi cần 7 mg; trẻ 10-12 tuổi cần 11mg; trên 12 tuổi 12-15mg; trên 14 tuổi và phụ nữ có thai ở mọi tuổi cần 15mg; phụ nữ cho con bú cần 19mg.

Thiếu vitamin E rất ít khi xảy ra, chỉ gặp trong các trường hợp bệnh nhân kém hấp thu chất béo ở ruột như bệnh Crohn, sau phẫu thuật, suy dinh dưỡng, trong vài bệnh di truyền đặc biệt. Thiếu vitamin E trong thời gian dài dẫn đến đi đứng không vững; không có phối hợp giữa các cơ bắp, yếu cơ bắp, giảm phản xạ; có thể đưa tới mù lòa, sa sút trí tuệ, loạn nhịp tim. Khi điều trị thiếu vitamin E cần theo chỉ định của bác sĩ . Bệnh nhân không nên tự ý dùng vitamin E vì có nhiều chứng minh khoa học cho thấy dùng thêm vitamin E có thể gây hậu quả không tốt cho sức khỏe.

Sử dụng vitamin E trong thời gian ngắn với liều tối đa 1.000mg/ngày được xem như tương đối an toàn và có thể có ích lợi. Khi dùng quá nhiều vitamin E có thể dẫn tới viêm da, đau bụng, tiêu chảy, nôn, tăng nguy cơ xuất huyết, mệt mỏi, nhức đầu, mờ mắt.

Nguồn: Suckhoedoisong.vn